Gọi anh là “vua” cũng không có gì quá đáng, nếu như ta vẫn thường gọi ai đó “vua cờ”, “vua lốp”, “vua…chọi gà”. Có điều ông vua này nghèo lắm. Một căn nhà tuềnh toàng với chiếc tủ xây bằng gạch trát xi-măng (mặc dù gỗ nơi anh ở không thiếu và anh rất giỏi nghề mộc) là chỗ ở chính của gia đình anh gần thị xã Hòa Bình. Thời gian tạm trú ở Hà Nội, hai bố con anh sống nhờ trong một căn buồng xép, giữa hai tầng gác khu tập thể nhạc viện Hà Nội, diện tích khoảng 6m2, đồ đạc chỉ có một tấm phản gỗ và một chiếc quạt bàn bé xíu, vỏ bằng gỗ, do anh tự tạo và rất nhiều, rất nhiều những nhạc cụ dân tộc cải tiến, cái anh đã hoàn chỉnh, cái đang làm dở dang. Nhưng chỉ cần tiếp xúc với anh một lần, người ta sẽ dễ dàng khám phá ra cái “giàu” tiềm tàng của anh: giàu tâm huyết, giàu nghị lực, ý chí, giàu sáng kiến.
Tên anh là Tạ Thâm, quê ở Thụy Anh (Thái Bình) song đã sớm thoát ly quê hương từ sau Cách mạng Tháng Tám. Tuổi anh năm nay vừa tròn sáu chục. Anh đã từng là thanh niên xung phong, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, từng là “văn công”, là học sinh lớp đầu tiên của Trường Âm nhạc Việt Nam, đã tốt nghiệp trung cấp âm nhạc từ năm 1963 rồi được cử phụ trách khoa âm nhạc Trường Nghệ thuật Tây Bắc. Anh yêu âm nhạc từ nhỏ nhưng cũng rất yêu toán học, vật lý. Nhưng điều anh mê hơn cả, mê đến có thể cống hiến toàn bộ cuộc đời cho nó, là làm sao phát triển nền âm nhạc cổ truyền, trong đó có khâu cải tiến nhạc cụ mà anh cho là một khâu khá quyết định. Ngay từ năm 1957, khi còn học ở trường, anh đã đề xuất với ban nghiên cứu âm nhạc (Bộ Văn hóa) là cần cải tiến 54 nhạc cụ của các dân tộc trong cả nước. Đề nghị của anh không được ai chú ý ủng hộ, anh mày mò cải tiến lấy một mình, trước hết là vẽ hình lên giấy. Năm 1964, có dịp sang Trung Quốc, thấy tận mắt và nghe tận tai nhiều nhạc cụ cải tiến của nhân dân nước bạn, anh càng nung nấu quyết tâm. Không có tiền mua vật liệu, tiền thuê thợ, anh vừa dạy học vừa tranh thủ kiếm tiền bằng mọi cách: mót lúa, làm công, nuôi gà, đánh cá… Kiếm được bao nhiêu, dồn hết cả vào sự nghiệp cải tiến. Anh còn lặn lội lên Việt Bắc, vào Tây Nguyên tìm hiểu thêm các nhạc cụ từng vùng. Có lần đi, có ít tiền dắt lưng cũng bị kẻ cắp moi mất, anh đành xin ăn trên xe lửa.
32 năm đằng đẵng trôi qua. “Đơn thương độc mã”, Tạ Thâm đã thực hiện xong đề tài thứ 44 trong kế hoạch cải tiến 54 nhạc cụ cổ truyền của anh. Trong hội nghị báo cáo những công trình cải tiến đàn dân tộc do Viện nghiên cứu âm nhạc tổ chức mùa đông năm 1987, anh xin đăng ký báo cáo 12 đề tài và đã chiếm 3 giải A, 2 giải B trong tổng số 10 giải Bộ Văn hóa trao tặng cho các tác giả có những công trình xuất sắc. Nhưng điều thú vị hơn cả là rất nhiều nhạc cụ cải tiến của anh đã từ trang giấy bước vào cuộc sống, được chế tạo hàng loạt để các đơn vị nghệ thuật sử dụng, trong đó phải kể đến đàn Bông Sen, chùm mõ, chùm nhạc, bộ chiêng dây, trống dây… trong nhóm nhạc cụ miền đồng bằng; đàn tính tẩu và đàn then (cùng dùng bầu gỗ) trong nhóm nhạc cụ Việt Bắc; đàn công-tốp (tức trống gỗ), đàn hưn-may (tức đàn tre của dân tộc Khơ-mú) trong nhóm nhạc cụ Tây Bắc; đàn t’rưng cầm tay trong nhóm nhạc cụ Tây Nguyên…. Gần đây, anh còn cho ra tiếp đàn nam-tranh, đàn trăng-than, sênh sứa, cống bảng.
Một con người đầy tâm huyết, đầy tài năng như vậy mà cuộc sống sao quá đỗi gian truân! Người giúp đỡ anh thì ít, kẻ ngăn cản, vùi dập anh lại nhiều. Chỉ cần ghi nhận một điểm cực kỳ phi lý, bất công là cho tới nay, nghĩa là già nửa đời người công tác, anh chỉ được lĩnh lương khoảng 22 nghìn đồng một tháng, nghĩa là bằng bậc lương cuối cùng của một công nhân, viên chức Nhà nước!
Phùng Quốc Thụy